Ngành xi mạ, nước thải phát sinh không nhiều, nồng độ các chất hữu cơ thấp, tuy nhiên hàm lượng các kim loại nặng thì  rất cao. Đó là điều quan tâm nhất và vấn đề xử lý nước thải xi mạ cần được nâng cao nhiều hơn. Bởi nhưng kim loại nặng nó gây bệnh cho cá và biến đổi các tính chất lý hoá của nước, tiêu diệt các sinh vật phù du, tạo ra sự tích tụ sinh học đáng lo ngại theo chiều dài chuỗi thức ăn.

Nước thải xi mạ và sự ảnh hưởng tới môi trường sống

Nước thải xi mạ phát sinh từ quá trình sản xuất của các nhà máy, xí nghiệp hoạt động ngành xi mạ công nghiệp. Độ nguy hiểm và tính chất của nó phụ thuộc vào từng dây chuyền sản xuất, loại hình sản xuất cũng như chất lượng sản phẩm và phần nguyên liệu.

Thông thường nước thải xi mạ phát sinh từ nước thải trong quá trình làm sạch bề mặt chi tiết của kim loại bị dính dầu mỡ. Để làm sạch người ta dùng hóa chất để tẩy hoặc môi điện hóa. Lúc này các chất ô nhiễm như ãit, kiềm và dung dịch được thải ra. Thứ 2 là nước xi mạ phát sinh từ quá trình mạ, dung dich trong bể mạ sau thời gian hoạt động sẽ bị rò rỉ, những cặn bã còn lại trong bể sẽ bị ra ngoài.

Ngoài việc ảnh hưởng nguồn nước gây chết cá, nước thải xi mạ còn còn ảnh hưởng đến đường ống dẫn nước, gây xâm thực, ăn mòn hệ thống cống rãnh. Tất cả sẽ ảnh hưởng đến chất lượng vật nuôi, cây trồng, canh tác nông nghiệp, làm thoái hoá đất do sự chảy tràn và thấm của nước thải.

Nếu không xử lý nước thải xi mạ đúng cách và thường xuyên thì qua thời gian tích tụ và bằng con đường trực tiếp hay gián tiếp sẽ tồn đọng trong cơ thể con người . Điều này sẽ gây các bệnh nghiêm trọng như  viêm đường hô hấp, viêm loét da, eczema, ung thư,…

Nước thải xi mạ có thành phần đa dạng về pH và nồng độ biến đổi rộng từ 2 – 3 đến 10 – 11. Đặc trưng chung của nó là chứa hàm lượng muối vô cơ cao và kim loại nặng. Tuỳ theo từng loại kim loại của lớp mạ mà nguồn ô nhiễm có thể là  Zn, Cu, Ni, Cr,… Đồng thời, cũng tuỳ thuộc vào loại muối kim loại được sử dụng mà nước thải có chứa các độc tố như sunfat, xianua, cromat amoni,… Trong nước thải xi mạ, thành phần chủ yếu là chất hoạt động bề mặt, chất tạo bông … nên COD, BOD thường thấp và không thuộc đối tượng xử lý. Đối tượng xử lý chính trong nước thải xi mạ là các ion vô cơ mà đặc biệt là các muối kim loại nặng như Ni, Cr,  Fe, Cu …

Bảng chất lượng nước thải ngành xi mạ

Công nghệ xử lý nước thải xi mạ

Tính chất của nước thải xi mạ là khác nhau và nó phụ thuộc vào kim loại mạ, chất điện li sử dụng. Để đơn giản trong quá trình xử lý nước thải xi mạ, người ta phân các dòng chính như:

– Nước thải xi mạ chứa Cr6+

– Nước thải xi mạ chứa Xyanua

– Nước thải xi mạ chứa amoni

– Nước thải xi mạ chứa nhôm, kẽm.

– Nước thải xi mạ chứa Niken, Đồng.

Quy trình của công nghệ xử lý nước thải xi mạ

Xử lý nước thải xi mạ chứa Cr6+ phải hoàn nguyên về Cr(III) và nâng pH lên 9.5 để kết tủa toàn bộ crôm. pH cao hơn 10 sẽ làm tan kim loại do Cr (III) là kim loại lưỡng tính.

– Dòng nước thải xi mạ chứa Xyanua phải tách riêng để thực hiện oxi hóa khử xyanua. Sau đó tùy vào kim loại có trong dòng này mà điều chỉnh pH phù hợp (Cu, Ni: pH>11; Zn: pH  9 – 9.5).

– Dòng nước thải chứa niken, đồng thì đơn giản chỉ cần nâng pH > 11 là toàn bộ kim loại sẽ kết tủa.

– Xử lý nước thải xi mạ chứa Zn, Al thì chỉ cần nâng pH = 9 thì toàn bộ ion Al, Zn sẽ kết tủa. Lưu ý pH cao hơn sẽ làm tan kim loại do Al, Zn là kim loại lưỡng tính.

Để chọn lựa công nghệ xử lý nước thải xi mạ hiệu quả và phù hợp với nhu cầu từng Doanh nghiệp. Bạn hãy liên hệ với công ty có chuyên môn để được tư vấn miễn phí và hỗ trợ nhiệt tình, chất lượng.

Xem thêm bài liên quan: