Những hệ sinh thái trên trái đất ( như hệ sinh thái rừng, hệ sinh thái biển, lưu vực sông, nguồn nước …) đã và đang cung cấp cho con người những giá trị dịch vụ được sử dụng cho sự phát triển xã hội, nhưng chúng đôi khi lại được coi là tài sản chung và được sử dụng miễn phí trong cuộc sống hằng ngày, do đó mà chất lượng của các hệ sinh thái ngày càng bị can kiệt khả năng cung cấp những dịch vụ môi trường từ đó ngày càng giảm đi.

Việc duy trì và bảo vệ các hệ sinh thái này lại chỉ được thực hiện bởi một số nhỏ người sống trong cộng đồng và người hưởng lợi là số đông người sống trong cộng đồng, nhưng những lợi ích mà nó đem lại không được lượng giá để bù đắp cho những hoạt động trên. Chính vì vậy, đòi hỏi phải có một sự định giá gía trị kinh tế những lợi ích của các hệ sinh thái này để làm cơ sở căn cứ để thanh toán từ những người hưởng lợi để đền bù và giúp đỡ những người bảo vệ và duy trì các hệ sinh thái và từ đó mới có thể duy trì việc cung cấp những dịch vụ môi trường từ các hệ sinh thái.

Vì vậy, khái niệm “chi trả dịch vụ tư vấn môi trường – PES” được ra đời nó là một sự hi vọng lớn để bảo vệ rừng, đa dạng sinh học, nguồn nước và tài nguyên thiên nhiên, huy động nguồn tài chính bền vững cho sự giữ gìn, quản lí những khu bảo tồn.

Vậy PES là gì?

Theo IUCN thì dịch vụ tư vấn môi trường “Các điều kiện và các mối hệ mà thông qua đó các hệ sinh thái tự nhiên và các loài phát triển tồn tại và phục vụ cho cuộc sống con người”.

Những dịch vụ đó chẳng hạn như là rừng thì cung cấp những giá trị phòng hộ đầu nguồn, cảnh quan, là bể chứa cacbon, bảo tồn những giá trị đa dạng sinh học,…, Rừng ngập mặn thì cung cấp những giá trị như là bảo vệ bờ biển, lưu trữ chất dinh dưỡng, chống sói mòn, nuôi trồng thủy hải sản…, khu bảo tồn cung cấp những giá trị về các loài quí hiếm, các nguồn gen quí, cảnh quan du lịch, khu vui chơi giải trí…

IUCN cũng đưa ra khái niệm về chi trả dịch vụ môi trường được đưa ra như sau: “Người mua [tự nguyện] đồng ý trả tiền hoặc các khuyến khích khác để chấp nhận và duy trì các biện pháp quản lí tài nguyên thiên nhiên và đất bền vững hơn mà nó cung cấp dịch vụ hệ sinh thái xác định”.

Điều này có nghĩa là chúng ta phải có được một thỏa thuận tự nguyện giữa người cung cấp dịch vụ và nggười sử dụng dịch vụ ( ví dụ như những người trồng rừng và những người được hưởng các lợi ích khác từ rừng như được sử dụng nước sạch, hưởng môi trường trong lành).

Phải có được một hợp đồng ràng buộc về mặt pháp lí, người sử dụng thực hiện việc mua một dịch vụ môi trường được xác định rõ ràng, người cung cấp thực hiện việc sử dụng một mảnh đất nơi phát sinh một dịch vụ phải được làm rõ và việc chi trả hoặc đền bù cho nhà cung cấp phải được thực hiện thông qua chi tài chính hoặc các hình thức khác. Việc chi trả hoặc đền bù phụ thuộc và dịch vụ môi trường được cung cấp một cách liên tục và ở một mức độ xác định.

Trên thế giới PES đã được chú ý thực hiện từ những năm 90 của thế kỉ 20 và đã được đề xuất bởi WWF, trong những năm gần đây khái niệm về PES đã được đề cập và thực thi ở nhiều nước, nhiều khu vực trên thế giới. Và PES cũng đã được gắn kết vào trong mục tiêu thiên nhiên kỉ (MDGs). PES được xem như là một cơ chế tài chính để giảm nghèo, bảo vệ thiên nhiên và đa dạng sinh học, vì một thế giới phát triển bền vững hơn.

PES đã được áp dụng ở một số nước châu Phi, Châu á, Đông Âu và Châu Mĩ La Tinh. Và được áp dụng cho các lĩnh vực như bảo vệ nguồn nước, rừng, cảnh đẹp, khu bảo tồn và đa dạng sinh học.

Chẳng hạn như dự án chi trả dịch vụ nguồn nước được tiến hành ở 5 nước Peru, Quatemala, Philippin, Tanzania, Indonesia. Và chương trình quản lí đồng bằng lưu vực sông Danube gồm 4 nước tham gia là Bungari, Moldova, Rumani, Ucraina.

Vậy còn thực trạng thực hiện PES ở Việt Nam ra sao?

Theo quan điểm của chính phủ Việt Nam:

– Bảo vệ và sử dụng có hiệu qủa tài nguyên quốc gia, cải thiện môi trường tự nhiên.

– Tăng cường quản lí tài nguyên quốc gia như đất, nước, khoáng sản và rừng.

– Tích cực phục hồi môi trường và các hệ sinh thái bị phá hủy. Tiếp tục phủ xanh đất trống đồi núi trọc, bảo vệ đa dạng sinh học….

– Chỉ tiêu cụ thể đến năm 2010 là đưa tỷ lệ che phủ rừng lên 42 – 43%, 95% dân cư thành thị và 75% dân cư nông thôn được sử dụng nước sạch và nhiều chỉ tiêu cụ thể khác.

Hiện nay, chính phủ Việt Nam chúng ta cũng đã có một khuôn khổ pháp lí và chính sách để thực thi PES, chẳng hạn như:

– Luật bảo vệ môi trường.

– Luật bảo vệ và phát triển rừng.

– Chiến lược quản lí hệ thống khu bảo tồn 2003.

– Quyết định số 08/2001/QĐ- TTg về quản lí rừng đặc dụng, rừng phòng hộ và rừng sản xuất, rừng tự nhiên.

– Pháp lệnh số 38/2001/PL- UBTVQH10 về phí và lệ phí.

– pháp lệnh số 40/2002/PL- UBVPQH10 về giá.

– Pháp lệnh về thuế tài nguyên (sửa đổi).

– Luật ngân sách.

– Nghị định số 10/2002/NĐ- CP về quản lí tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp có thu.

– Quyết định số 53/2002/QĐ- BKHCNMT về quỹ môi trường.

– Quyết định số 34/2002/QĐ- BNNPTNT về quỹ bảo tồn thiên nhiên.

– Kí quỹ môi trường ( theo thông tư liên tịch số: 126/1999/TTLT-BTC-BKHCNMT ngày 22/1/1999).

– Nhãn sinh thái ( Theo TCVN 14024: 2005 về nhãn môi trường và công bố môi trường – Ghi nhãn môi trường kiểu I – Nguyên tắc và thủ tục).

– Ngoài ra chúng ta cũng có những chế tài xử phạt hành chính, đền bù thiệt hại môi trường, và phát triển cơ chế sạch.

Đây chính là khung pháp lí vững chắc để cho chúng ta thực thi PES ở Việt Nam. Song chúng ta vẫn còn thiếu một số luật như luật về đa dạng sinh học…, và những khung pháp lí trên của chúng ta hiệu lực còn khiêm tốn. Một số nội dung chưa được phù hợp với sự phát triển trong tình hình hiện nay.

Bên cạnh đó chúng ta cũng đang có những chương trình dự án thực thi PES tại Việt Nam như:

– Bảo tồn đa dang sinh học

– MSC nhãn hiệu sinh thái đối với trai Bến Tre và nước mắn Phú Quốc.

– VFTN nhãn hiệu sinh thái, để nhằm tạo ra sự đảm bảo hướng tới quản lí rừng bền vững. Khách hàng cuối cùng trả cho quản lí bền vững khi mua sản phẩm có chứng chỉ.

– Quỹ Phát triển cho Côn Đảo MPA nhằm tạo ra một cớ chế tài chính bền vững cho bảo tồn và phát triển đa dạng sinh học, tạo một quỹ được chính quyền thông qua. Và người hưởng lợi trả cho quản lí bền vững thông qua việc đóng góp vào quỹ.

– Bảo vệ nguồn nước, thanh toán để bảo vệ rừng đầu nguồn sông Thu Bồn, cơ chế chi trả cho Sông Hương để bảo tồn Sao La.

– Thử nghiệm các cơ chế chi trả ở Lâm Đồng, Bình Phước và Đồng Nai của tổ chức WinRock International.

Song trên thực tế chúng ta vẫn còn nhiều hạn chế trong việc chi trả cho hệ thống dịch vụ môi trường ở Việt Nam, đó là:

– Việc chi trả các dịch vụ môi trường mới chỉ tập trung ở một phạm vi hẹp của các dịch vụ môi trường.

– Vẫn chưa có chế độ chi trả trực tiếp diễn ra, việc chi trả vẫn chủ yếu thông qua quỹ của Ngân sách nhà nước hơn là chi trả trực tiếp cho người cung cấp dịch vụ.

– Ảnh hưởng của cơ chế mệnh lệnh kiểm soát của nhà nước là quá lớn.

– Thị trường sẽ chỉ hoạt động một cách có hiệu quả khi các dịch vụ cụ thể được xác định cả về chất và xác định cả về lượng, được quan trắc và kiểm tra bằng cách chuyển giao dịch vụ.

– Việc xác định rõ ràng quyền sở hữu, phạm vi người cung cấp và người sử dụng là còn yếu kém.

Những trở ngại cho việc thực thi PES ở Việt Nam là gì?

– Thiếu ý thức về giá trị kinh tế của các dịch vụ môi trường.

– Khó tạo ra thị trường cho bảo tồn.

– Khó thay đổi tập quán địa phương.

– Thiếu vốn và tín dụng để thành lập quỹ ban đầu

– Quyền tài sản không rõ ràng

– Thiếu sự trợ giúp về luật pháp do đó khả năng bắt buộc đối với người hưởng lợi thấp.

– Hệ thống tiền tệ của chính phủ phức tạp.

– Chưa tạo ra được một thị trường cạnh tranh hoàn hảo để mua bán các giá trị dịch vụ môi trường.

– Mức sống của người dân còn thấp, nhất là ở những vùng sâu, vùng xa.

Vậy đâu là yếu tố cho sự áp dụng thành công PES ở Việt Nam?

Để áp dụng có hiệu quả PES ở Việt Nam đòi hỏi trước hết chúng ta phải có:

– Có một hệ thống cơ sở pháp lí đủ mạnh làm căn cứ thực thi việc chi trả các dịch vụ môi trường ( Như luật pháp, các quy định, quyết định, cơ chế tài chính…)

– Trao quyền và sở hữu tài nguyên một cách rõ ràng và minh bạch

– Giải quyết tốt vấn đề xóa đói, giảm nghèo.

– Xác định rõ quyền và trách nhiệm của các nhóm tham gia, bao gồm những người trung gian.

– Đánh giá, thu phí rõ ràng và sử dụng hiệu quả.

– Giảm thiểu chi phí giao dịch

– Thiết kế để hoạt động ở các cấp từ trung ương đến địa phương có các nguồn tài chính dài hạn độc lập.